Ngoài Tết Nguyên đán, người Tày – Nùng ở Trùng Khánh còn ăn nhiều Tết khác trong năm, quen thuộc nhất là Tết Thanh minh (tháng Ba âm lịch), Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng Năm), Tết tháng Bảy (quanh rằm tháng Bảy) và Tết cơm mới khi lúa chín. Trong đó Tết tháng Bảy được nhiều gia đình coi là lớn thứ hai sau Tết Nguyên đán: con cháu đi xa về, nhà nào cũng có vịt, có bánh.
Mỗi Tết gắn với một mùa trong năm làm ruộng và một nhóm món ăn riêng. Bài này đi theo lịch âm, kể việc nhà người ta làm trong từng Tết, những món chính (chi tiết cách làm món để ở mục ẩm thực của trang) và cách người mới đến, khách thăm nên cư xử khi được mời. Tục mỗi dòng họ, mỗi bản có khác; dưới đây là nét chung.
Tết Nguyên đán: lớn nhất năm
Như mọi miền, Tết Nguyên đán là dịp quan trọng nhất. Từ cuối tháng Chạp, nhà nhà dọn dẹp, mổ lợn, gói bánh chưng, làm bánh, làm lạp sườn, treo thịt gác bếp. Người đi làm xa về bản; xe khách, xe riêng nối nhau trên đường từ trung tâm tỉnh về. Chợ phiên những ngày cuối năm đông nhất năm, bán đủ thứ từ lá dong, gạo nếp, giấy đỏ đến quần áo, giày dép cho trẻ con.
Chiều ba mươi cúng tổ tiên; sáng mùng Một kiêng nhiều việc, người ta chú ý người xông nhà đầu tiên. Từ mùng Hai, đi chúc Tết họ hàng, bạn bè; khách đến nhà thường được mời rượu, mời bánh, có khi ngồi đến tối. Ở nhiều bản có tục đi lấy nước đầu năm, hái lộc, và người trẻ mặc áo chàm đẹp nhất đi chơi.
Người đi làm xa thường về trước Tết vài ngày và lên đường trở lại sau rằm tháng Giêng. Những ngày cao điểm ấy, đường từ trung tâm tỉnh về Trùng Khánh đông xe hơn hẳn; sương mù sáng sớm trên các đoạn đèo dày, nên người lái xe thường chờ trời sáng hẳn mới đi.
Sau Tết là mùa lễ hội: Lồng tồng, hội xuân, các buổi hát Then, hát Sli. Cả tháng Giêng là tháng của họp mặt, nên nếu bạn chuyển đến sống ở Trùng Khánh, đây là thời gian dễ làm quen hàng xóm nhất.
Tết Thanh minh (tháng Ba): tảo mộ và bánh trứng kiến
Vào tháng Ba âm lịch, quanh tiết Thanh minh, các gia đình Tày – Nùng đi sửa sang mộ tổ tiên: phát cỏ, đắp đất, cắm cờ giấy nhiều màu lên mộ, bày lễ. Con cháu đông đủ, sau lễ ngồi ăn cùng nhau ngay tại khu mộ hoặc mang về nhà. Ngày đi tảo mộ mỗi dòng họ tự chọn trong khoảng thời gian này.
Đây cũng là mùa trứng kiến: kiến đen làm tổ trên cây, người ta đi lấy trứng về làm bánh trứng kiến — món đặc trưng của người Tày vùng Cao Bằng, Bắc Kạn. Ngoài ra có xôi nhiều màu, gà, thịt. Vì trứng kiến chỉ có theo mùa, bánh này gắn chặt với tháng Ba.
Khách được mời đi cùng một gia đình lên mộ thì nên đi giày chắc, mang nước, và để gia đình chủ động trong phần lễ. Đây là việc riêng của dòng họ, chụp ảnh nên hỏi trước.
Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng Năm): diệt sâu bọ, hái lá thuốc
Mùng 5 tháng Năm âm lịch là Tết Đoan ngọ, người Việt gọi là Tết giết sâu bọ. Với người Tày – Nùng, đây là lúc giữa mùa nóng, mùa dịch bệnh xưa hay phát; người ta ăn đồ chua, hoa quả, rượu nếp để "diệt sâu bọ" trong người, và nhiều nhà làm bánh gio (bánh tro) gói lá.
Một tục nhiều người già còn giữ là hái lá thuốc vào sáng mùng 5: các loại lá cây rừng, cây vườn được tin là khi hái ngày này có tác dụng tốt, đem phơi khô để dành nấu nước tắm, nước uống. Đây là tri thức dân gian truyền miệng; nếu bạn có bệnh, hãy đi khám bác sĩ chứ đừng chỉ dựa vào lá cây.
Đoan ngọ là Tết nhỏ, không nghỉ ngơi dài, nhưng là dịp con cháu ghé ông bà, mang ít hoa quả, rượu biếu nhà ngoại.
Tết tháng Bảy: Tết lớn thứ hai
Quanh rằm tháng Bảy âm lịch — nhiều gia đình Tày – Nùng vùng này làm vào ngày 14 — là Tết tháng Bảy, dịp cúng tổ tiên và cũng là Tết đoàn tụ thứ hai trong năm. Con cái đã có gia đình riêng thường về nhà bố mẹ; con gái lấy chồng xa mang quà về nhà ngoại. Vịt là món không thể thiếu, cùng các loại bánh gói lá, xôi, thịt.
Vì sao lại là vịt? Người ta giải thích theo nhiều cách: có người nói tháng Bảy là lúc vịt béo nhất sau mùa lúa, có người kể con vịt biết bơi đưa người đi qua sông trong các câu chuyện cổ. Không có cách giải thích nào là duy nhất; chỉ biết rằng đến ngày này, chợ phiên đầy vịt và cả bản thơm mùi vịt quay, vịt luộc.
Tết tháng Bảy rơi vào mùa mưa, có năm đường đi lại khó vì mưa lớn. Người đi xa về nên xem thời tiết, nhất là trên các đoạn đèo, và tính thời gian rộng rãi.
Lịch Tết trong năm — nhìn nhanh
Bảng gom các Tết hay được nhắc ở người Tày – Nùng vùng Cao Bằng. Ngày theo lịch âm; từng dòng họ, từng bản có thể làm sớm hay muộn hơn một chút, và một số Tết nhỏ chỉ một số gia đình giữ.
| Tết | Thời điểm (âm lịch) | Việc chính | Món hay có |
|---|---|---|---|
| Nguyên đán | Mùng 1 tháng Giêng | Cúng tổ tiên, chúc Tết, hội xuân | Bánh chưng, thịt, lạp sườn, xôi |
| Thanh minh | Tháng Ba | Tảo mộ, sửa mộ | Bánh trứng kiến, xôi màu, gà |
| Đoan ngọ | Mùng 5 tháng Năm | Diệt sâu bọ, hái lá thuốc | Bánh gio, hoa quả, rượu nếp |
| Tết tháng Bảy | Quanh rằm tháng Bảy | Cúng tổ tiên, đoàn tụ | Vịt, bánh gói lá, xôi |
| Tết cơm mới | Khi lúa chín, thường tháng Tám – tháng Mười | Dâng cơm mới, mời họ hàng | Cốm, xôi gạo mới, cá ruộng |
Bên cạnh đó, một số gia đình còn làm Tết mùng 3 tháng Ba, Tết mùng 6 tháng Sáu, Tết Trùng cửu (mùng 9 tháng Chín) hay Đông chí, tuỳ dòng họ. Muốn biết nhà hàng xóm có làm Tết nào, cứ hỏi — người ta sẵn lòng kể.
Một mẹo cho người mới chuyển đến: hãy ghi các ngày Tết của hàng xóm vào lịch âm trên điện thoại ngay năm đầu. Biết trước ngày, bạn chủ động hỏi thăm, góp một món quà nhỏ, hoặc ít nhất không xếp việc ồn ào đúng hôm nhà bên làm lễ. Những cử chỉ nhỏ ấy được người trong bản nhớ rất lâu.
Tết cơm mới: cảm ơn mùa lúa
Khi lúa nếp, lúa tẻ bắt đầu chín, thường trong khoảng tháng Tám đến tháng Mười âm lịch tuỳ vụ và tuỳ vùng, nhiều gia đình làm lễ cơm mới: cắt những bông lúa đầu tiên, làm cốm, thổi xôi gạo mới, bắt cá ruộng, dâng lên bàn thờ tổ tiên rồi mời họ hàng, hàng xóm ăn cùng.
Mùa này cũng trùng với mùa hạt dẻ chín rộ ở Trùng Khánh, nên mâm cơm mới ở nhiều nhà có thêm hạt dẻ luộc, hạt dẻ rang. Không khí nhẹ nhàng, ít nghi thức hơn Tết Nguyên đán, nhưng là dịp đẹp nhất để thấy sự gắn bó của người Tày – Nùng với ruộng lúa: cánh đồng vàng, hương cốm mới, khói đốt rơm trên các thung lũng chiều.
Ở nơi đã chuyển sang trồng giống lúa mới cho năng suất cao hoặc bỏ ruộng trồng cây khác, lễ cơm mới thưa dần. Nhưng nhiều gia đình vẫn giữ một mảnh ruộng nếp nương, nếp cẩm để có gạo ngon cho Tết và cho lễ cơm mới.
Tết khi con cháu đi làm xa
Mười mấy năm nay, nhiều thanh niên Trùng Khánh đi làm công nhân ở các khu công nghiệp miền xuôi, có người đi xa hơn. Nhịp Tết vì thế đổi theo. Tết Nguyên đán vẫn là dịp về đông nhất; Tết tháng Bảy rơi vào giữa năm, nhiều người không xin nghỉ được, đành gọi điện về, gửi tiền mua vịt cho bố mẹ. Có gia đình dời bữa cơm Tết tháng Bảy sang ngày cuối tuần gần nhất để con cháu kịp về.
Người già trong bản hay nói Tết bây giờ "vắng hơn" nhưng "đủ hơn": mâm cỗ nhiều món hơn, nhà cửa khang trang hơn, nhưng ít người ngồi cùng. Ngược lại, chính những người đi xa lại là người giữ Tết rất kỹ khi về: mặc áo chàm đi chúc Tết, hỏi bà cách gói bánh, quay video gửi bạn bè. Văn hoá Tết không chỉ được giữ ở bản mà còn đi theo người con xa quê.
Nếu bạn là người con Trùng Khánh đi xa, một việc nhỏ giúp giữ Tết là ghi lại công thức, lệ cúng, lời khấn của gia đình mình từ ông bà, cha mẹ. Mỗi nhà một khác, và những thứ ấy không có trong sách.
Vì sao Tết mỗi bản, mỗi nhà một khác
Người mới đến hay thắc mắc: cùng là người Tày, sao nhà này làm Tết tháng Bảy ngày 14, nhà kia làm ngày 15; sao bản này có Tết mùng 6 tháng Sáu mà bản bên không. Lý do nằm ở cách văn hoá được truyền: theo dòng họ, theo người thầy cúng của bản, theo quê gốc của tổ tiên. Người Nùng các nhóm khác nhau, người Tày ở các vùng khác nhau, mỗi bên mang theo những lệ hơi khác nhau, rồi sống cạnh nhau mấy trăm năm.
Thêm vào đó, đời sống hiện đại làm nhiều lệ giản lược: Tết nhỏ không còn làm, lễ dài được rút ngắn, món khó làm được thay bằng món mua ở chợ. Không có bản nào "đúng chuẩn" hơn bản nào; mỗi gia đình giữ theo cách phù hợp với mình.
Vì thế, khi viết hay nói về Tết của người Tày – Nùng, nên tránh khái quát kiểu "người Tày luôn…", "người Nùng không bao giờ…". Một câu hỏi thăm "nhà mình làm Tết này thế nào" luôn tốt hơn mọi câu khẳng định đọc được trên mạng.
Khi được mời ăn Tết nhà người Tày – Nùng
Mang quà nhỏ, đừng mang quà quá đắt. Bánh kẹo, chai rượu, ít hoa quả là đủ. Quà quá đắt làm gia chủ ngại.
Chào người lớn tuổi trước. Vào nhà, chào ông bà, bố mẹ chủ nhà rồi mới chào người trẻ. Ngồi chỗ được mời.
Uống rượu vừa phải và biết từ chối khéo. Mời rượu là phép hiếu khách, thường kèm lời chúc. Không uống được thì nói rõ từ đầu, nhấp môi cho lễ; đã uống thì đừng để say. Không lái xe sau khi uống.
Ăn đúng mâm, gắp từ tốn. Mâm cỗ thường chia theo lứa tuổi, giới. Không tự ý chuyển mâm; ăn từ tốn, khen món ngon là gia chủ vui.
Nhớ lệ kiêng của ngày đầu năm. Mùng Một nhiều nhà kiêng khách lạ xông nhà, kiêng quét nhà, kiêng cho mượn đồ. Không chắc thì để từ mùng Hai hãy đến chúc Tết.
Câu hỏi thường gặp
Tết tháng Bảy của người Tày – Nùng là ngày nào?
Thường quanh rằm tháng Bảy âm lịch, nhiều gia đình ở vùng Cao Bằng làm vào ngày 14. Có nơi làm hai ngày 14 và 15, tuỳ dòng họ. Hỏi gia đình mời bạn để biết chính xác ngày làm của họ.
Vì sao người Tày – Nùng ăn nhiều Tết như vậy?
Phần lớn các Tết gắn với nhịp làm ruộng và các mùa trong năm: đầu năm, giữa mùa nóng, lúc lúa chín. Mỗi Tết vừa là lễ cúng tổ tiên vừa là dịp nghỉ ngơi, đoàn tụ, ăn ngon sau những tuần làm việc nặng.
Người mới đến làm việc có nên về quê vào Tết tháng Bảy không?
Tết tháng Bảy không phải ngày nghỉ lễ chính thức, nên cơ quan, trường học vẫn làm việc bình thường. Nếu được đồng nghiệp người địa phương mời ăn Tết tháng Bảy, đó là dịp tốt để gần gũi họ, nên sắp xếp đến.
Mâm cỗ Tết tháng Bảy nên ăn món gì trước?
Không có thứ tự bắt buộc. Thường chủ nhà mời một chén rượu chung, chúc nhau rồi mới ăn. Vịt là món chính, cứ ăn tự nhiên. Khen món ngon, hỏi cách làm là cách trò chuyện được chủ nhà quý.
Bánh trứng kiến chỉ có vào tháng Ba?
Phần lớn là vậy, vì trứng kiến đen chỉ nhiều vào khoảng tháng Ba, tháng Tư âm lịch. Một số nơi trữ đông trứng kiến để làm bánh vào dịp khác, nhưng người địa phương vẫn coi bánh trứng kiến là món của mùa Thanh minh.
Tết cơm mới có cố định ngày không?
Không cố định cho cả vùng. Mỗi gia đình làm khi lúa nhà mình bắt đầu chín, nên có nhà làm sớm, nhà làm muộn. Ở nơi trồng nhiều vụ, lễ thường gắn với vụ lúa nếp được coi trọng nhất trong năm.