Trang phục truyền thống của người Tày và người Nùng ở Trùng Khánh lấy màu chàm làm chủ đạo: phụ nữ Tày mặc áo dài năm thân màu chàm sẫm, đội khăn chàm, thắt lưng; người Nùng mặc áo ngắn hơn, cách cắt cổ, cài khuy và đội khăn khác nhau tuỳ nhóm; đàn ông hai dân tộc mặc áo cánh và quần chàm. Khác với trang phục nhiều màu, nhiều hoa văn của một số dân tộc vùng cao khác, áo Tày – Nùng giản dị, đẹp ở màu chàm đều và đường may khéo.
Ngày nay ở Trùng Khánh, người mặc áo chàm thường ngày chủ yếu là phụ nữ cao tuổi; người trẻ mặc vào dịp Tết, lễ hội, đám cưới, ngày hội văn hoá. Bài này giới thiệu các bộ phận của trang phục, nghề nhuộm chàm thủ công, cách nhận ra áo nhuộm thật, và cách mặc, giữ áo cho bền. Chi tiết có khác giữa các bản, các nhóm; mô tả dưới đây là nét chung.
Áo dài năm thân của phụ nữ Tày
Áo dài của phụ nữ Tày thường dài quá gối, có năm thân (bốn thân chính và một thân con phía trong), cổ tròn, xẻ nách và cài khuy bên phải, tay áo hẹp. Áo nhuộm chàm sẫm, gần như đen khi nhìn trong nhà, ánh xanh tím khi ra nắng. Trang trí thường rất ít, có khi chỉ là đường viền ở cổ, ở tay. Mặc kèm là quần chàm ống rộng, thắt lưng vải, và khăn chàm đội đầu.
Áo mặc thường ngày may đơn giản, vải dày để làm việc; áo mặc dịp lễ, Tết may kỹ, nhuộm đều, vải mịn hơn, có khi mặc lồng hai ba lớp. Đi kèm có thể là vòng cổ, vòng tay bạc, xà tích bạc. Một bộ áo dài chàm mới may, nhuộm kỹ từng là của hồi môn quý của con gái khi về nhà chồng.
Người Tày ở các vùng khác của Việt Bắc cũng mặc áo dài chàm tương tự, khác nhau chủ yếu ở chi tiết cắt may, cách đội khăn. Người trong vùng nhìn chiếc khăn, chiếc áo có thể đoán người mặc từ bản nào tới.
Trang phục của người Nùng: khác theo nhóm
Người Nùng cũng mặc chàm, nhưng mỗi nhóm có nét riêng. Nhìn chung, áo phụ nữ Nùng ngắn hơn áo dài Tày, thường dài ngang hông hoặc quá hông, cài khuy bên nách; cách viền cổ, viền tay, nẹp áo có khi bằng vải màu khác. Khăn đội đầu là chỗ khác nhau dễ nhận nhất: có nhóm quấn khăn gọn, có nhóm gấp khăn thành hình đặc trưng, có nhóm buộc khăn với đầu khăn thả sau lưng.
Vì có nhiều nhóm Nùng sống trong vùng, đừng vội gán một kiểu áo cho "người Nùng" nói chung. Một bà cụ Nùng có thể chỉ cho bạn từng chi tiết: đường viền nào là của nhóm mình, kiểu khăn nào là của nhóm bên cạnh. Những khác biệt nhỏ ấy là cách các cộng đồng giữ dấu riêng của mình suốt mấy trăm năm.
Đàn ông Nùng và Tày ngày thường mặc áo cánh, quần chàm hoặc quần áo hiện đại; dịp lễ có thể mặc áo dài chàm nam, đội khăn. Hiện nay nam giới trẻ mặc trang phục truyền thống ít hơn nữ nhiều.
Nghề nhuộm chàm: từ lá cây đến tấm vải sẫm
Nhuộm chàm thủ công cần thời gian và kinh nghiệm. Quy trình chung của nhiều bản Tày – Nùng, có thể khác chi tiết theo từng nhà:
- Trồng và thu lá chàm: cây chàm trồng ở vườn, ven nương; cắt cả cành lá vào mùa lá tốt.
- Ngâm lá: ngâm lá trong chum, thùng nước vài ngày cho lá rữa, chất màu tan ra; vớt bã.
- Đánh cao chàm: cho thêm nước vôi, khuấy, đánh mạnh cho tạo bọt; để lắng lấy phần cao chàm sẫm màu ở đáy.
- Pha nước nhuộm: hoà cao chàm với nước tro bếp lọc và một số thứ khác theo kinh nghiệm từng nhà, ủ trong chum nhuộm đến khi nước "lên màu".
- Nhuộm nhiều lần: nhúng vải bông vào chum, vò, vắt, phơi; rồi lại nhúng, lại phơi. Vải ra không khí mới chuyển xanh sẫm. Muốn màu sâu, phải lặp nhiều lần, có khi hàng chục lần qua nhiều ngày.
- Làm bóng, giữ màu: một số nơi có công đoạn hấp, đập vải hoặc dùng thêm các loại củ, lá để vải bóng và bền màu hơn.
- May: vải nhuộm xong mới cắt may; người khéo may cả bộ áo bằng tay.
Toàn bộ quy trình kéo dài nhiều tuần, phụ thuộc thời tiết. Chum chàm được chăm như một thứ sống: người nhuộm nói nước chàm "khoẻ" hay "yếu", có lúc phải "cho ăn" thêm. Đó là tri thức kinh nghiệm truyền từ mẹ sang con gái, không có công thức cố định.
Vì sao áo chàm ít dần trên đường
Lý do đầu tiên là công sức. Một bộ áo nhuộm chàm thủ công tốn nhiều tuần, trong khi quần áo may sẵn mua ở chợ chỉ mất vài phút. Người trẻ đi học, đi làm xa ít thời gian ngồi bên chum chàm. Lý do thứ hai là tiện dụng: áo chàm thủ công phai màu, ra màu khi gặp nước, dễ dây màu sang da và đồ khác; áo dài khó làm việc đồng áng nặng.
Lý do thứ ba ít ai nói: ở thời gian trước, không ít người trẻ ngại mặc trang phục dân tộc ra phố, sợ bị coi là quê. Tâm lý này đã đổi nhiều trong những năm gần đây; người trẻ tự hào mặc áo chàm chụp ảnh ngày Tết, ngày cưới, đăng lên mạng xã hội.
Song song, vải chàm công nghiệp, áo may sẵn kiểu dân tộc xuất hiện nhiều ở chợ. Chúng rẻ, bền màu, tiện mặc, nhưng không có độ sâu màu và mùi chàm đặc trưng của vải nhuộm tay. Nhiều gia đình mua áo may sẵn để mặc dịp lễ, còn giữ một bộ áo nhuộm tay của mẹ, của bà làm kỷ vật.
Nhận biết vải chàm nhuộm tay và vải nhuộm công nghiệp
Không có cách nào chắc chắn tuyệt đối khi chỉ nhìn, nhưng một số dấu hiệu dưới đây giúp bạn phân biệt khi mua.
| Dấu hiệu | Vải nhuộm tay | Vải nhuộm công nghiệp |
|---|---|---|
| Màu | Sẫm, có chỗ đậm nhạt khác nhau nhẹ, ánh tím hoặc ánh đồng dưới nắng | Đều tăm tắp, màu phẳng |
| Mùi | Có mùi chàm, tro nhẹ, nhất là vải mới | Gần như không mùi hoặc mùi hoá chất |
| Khi chà | Có thể dây màu sang tay, sang vải trắng | Ít hoặc không dây màu |
| Mặt vải | Thường là vải bông dệt, sờ thấy sợi | Thường vải máy mịn, đôi khi pha sợi tổng hợp |
| Thời gian làm | Nhiều tuần | Sản xuất hàng loạt |
Nếu mua làm kỷ niệm, hãy hỏi người bán xem vải nhuộm ở đâu, ai nhuộm. Người làm thật thường vui vẻ kể về chum chàm nhà mình. Đừng ngạc nhiên nếu vải nhuộm tay đắt hơn hẳn — đó là giá của nhiều tuần công.
Bạc đi cùng áo chàm
Trên nền áo chàm sẫm, đồ bạc nổi bật: vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, xà tích đeo ở thắt lưng, có nơi có cả trâm cài khăn. Với người Tày – Nùng, bạc vừa là đồ trang sức vừa là của để dành; một bộ vòng bạc được truyền từ mẹ sang con gái, mang theo khi về nhà chồng.
Người già trong vùng còn tin bạc giúp giữ sức khoẻ, đeo cho trẻ nhỏ để "giữ vía". Đây là quan niệm dân gian; nếu con bạn có bệnh, hãy đưa đi khám bác sĩ, đồ bạc chỉ nên coi là kỷ vật. Kiểu dáng đồ bạc khác nhau giữa các nhóm, nhiều món do thợ bạc trong tỉnh làm thủ công, chạm hoa văn đơn giản.
Khi mua đồ bạc làm kỷ niệm, nên mua ở nơi có người bán rõ ràng, hỏi kỹ về chất liệu, và hiểu rằng hàng "giả cổ" bày ở các điểm du lịch không phải lúc nào cũng là bạc thật.
Mặc và giữ áo chàm cho bền
Giặt riêng, nước lạnh. Áo chàm nhuộm tay ra màu, nhất là mấy lần giặt đầu. Giặt riêng bằng nước lạnh, không ngâm lâu, không dùng nhiều xà phòng mạnh, không cho vào máy giặt chung với đồ sáng màu. Nhiều bà cụ chỉ giũ áo qua nước sạch rồi phơi, ít khi vò mạnh.
Phơi trong bóng râm. Nắng gắt làm màu chàm nhanh bạc. Phơi chỗ râm, thoáng gió, lộn mặt trái ra ngoài.
Cẩn thận khi mặc cùng đồ màu sáng. Áo mới có thể dây màu sang áo trong, sang túi xách sáng màu. Mặc áo lót sẫm màu để tránh loang.
Cất nơi khô ráo. Vải bông dễ mốc khi mùa nồm ẩm. Gói trong túi vải, để nơi thoáng, thỉnh thoảng mang ra hong. Tránh túi ni lông kín vì hơi ẩm đọng lại bên trong làm vải ố.
Mặc đúng dịp, đúng cách. Khi được mời mặc thử áo truyền thống, hãy nhờ người địa phương chỉnh khăn, cài khuy cho đúng. Mặc lệch, mặc ngược vạt dễ thành trò cười không mong muốn.
Khi nào người Trùng Khánh còn mặc áo chàm
Ngày Tết, ngày lễ hội Lồng tồng, ngày cưới là những dịp bạn thấy nhiều áo chàm nhất. Ở đám cưới, cô dâu, mẹ cô dâu, các bà trong họ thường mặc áo chàm đẹp nhất; ở hội, các đội văn nghệ, đội kéo co mặc đồng phục chàm. Một số cơ quan, trường học trong tỉnh có ngày mặc trang phục dân tộc, khiến nhiều người trẻ có dịp mặc thường xuyên hơn.
Phụ nữ cao tuổi ở các bản xa trung tâm vẫn mặc áo chàm hằng ngày, đi nương, đi chợ. Nhìn những bà cụ mặc áo chàm sẫm, đội khăn, gùi trên lưng đi trong sương sớm, bạn sẽ hiểu vì sao áo chàm được coi là dấu hiệu nhận ra người Tày – Nùng giữa đám đông.
Với người làm du lịch ở Trùng Khánh, áo chàm cũng là một phần của cách đón khách: chủ homestay mặc áo chàm đón khách, cho khách mượn áo chụp ảnh. Điều nên tránh là biến áo thành đạo cụ rẻ tiền, may cẩu thả, mặc sai cách. Mặc đúng và kể được câu chuyện chiếc áo mới là cách giữ trang phục có giá trị.
Một số trường học, câu lạc bộ ở Cao Bằng đã mời các bà, các mẹ biết nhuộm chàm, may áo truyền thống đến dạy cho học sinh, hội viên. Chỉ cần mỗi xã còn vài người làm được trọn quy trình từ cây chàm đến tấm áo, nghề có thể sống tiếp; mất hết những người ấy thì áo chàm chỉ còn là hàng may sẵn mua ở chợ. Ghi chép, quay phim lại cách nhuộm của các bà cụ là việc nhỏ mà con cháu trong nhà có thể làm ngay.
Câu hỏi thường gặp
Áo dài năm thân của người Tày khác áo dài người Kinh thế nào?
Áo Tày thường may vải bông nhuộm chàm, rộng hơn, tay hẹp, xẻ nách cài khuy bên phải, mặc kèm quần chàm ống rộng, khăn và thắt lưng. Áo dài người Kinh hiện đại may ôm, vải mỏng, nhiều màu. Hai loại có nguồn gốc và công dụng khác nhau.
Có thể mua áo chàm nhuộm tay ở Trùng Khánh không?
Có thể, nhưng không nhiều. Hãy hỏi ở chợ phiên, hỏi các homestay hoặc các hội phụ nữ ở xã để được giới thiệu người còn nhuộm. Áo bán sẵn ở các quầy lưu niệm nhiều khi là vải công nghiệp, nên hỏi kỹ trước khi mua.
Vì sao áo chàm mới hay dây màu ra da?
Vì màu chàm bám trên sợi vải theo lớp, lớp ngoài chưa bám chắc sẽ ra theo mồ hôi, nước. Sau vài lần giặt nhẹ, áo sẽ bớt ra màu. Màu chàm dây trên da thường rửa sạch được bằng xà phòng.
Khách du lịch mặc áo chàm chụp ảnh có bị coi là thiếu tôn trọng không?
Thường không, nếu bạn mặc đúng cách, đúng nơi và có sự đồng ý của người cho mượn. Tránh mặc rồi tạo dáng chế giễu, hoặc mặc áo lễ vào nơi không phù hợp. Hỏi người địa phương cách mặc là cách thể hiện tôn trọng tốt nhất.
Cây chàm có trồng nhiều ở Trùng Khánh không?
Ngày trước nhiều gia đình trồng chàm trong vườn để tự nhuộm. Nay số nhà còn trồng ít đi theo số người nhuộm. Muốn xem cây chàm và chum nhuộm, bạn nên hỏi các bà cụ trong bản hoặc nhờ người địa phương dẫn đến nhà còn giữ nghề.
Có lớp học nhuộm chàm nào cho khách không?
Ở một số điểm du lịch cộng đồng trong tỉnh có trải nghiệm nhuộm chàm cho khách. Ở Trùng Khánh, việc này tuỳ từng nơi, từng thời điểm. Hãy hỏi trước nơi lưu trú, và nhớ rằng nhuộm thật cần nhiều ngày, trải nghiệm ngắn chỉ giúp bạn hiểu nguyên lý.