Vùng Trùng Khánh có lịch sử cư trú lâu đời của người Tày và về sau thêm người Nùng. Trong sử sách triều đình, vùng này lần lượt là một phần của châu Quảng Nguyên thời Lý, các châu do thổ ty cai quản thời Lê – Nguyễn, phủ Trùng Khánh thời Nguyễn, vùng quân sự biên giới thời Pháp, huyện Trùng Khánh sau 1945, huyện mở rộng từ 2020 và bảy xã của tỉnh Cao Bằng từ ngày 1/7/2025.
Viết lịch sử một huyện vùng biên có hai khó khăn: tư liệu thành văn chủ yếu là sử triều đình nhìn từ kinh đô, và nhiều giai đoạn gần đây nhạy cảm. Bài này đi theo các mốc chắc chắn, chỗ nào chỉ có lời kể thì ghi rõ, và viết về giai đoạn căng thẳng vùng biên một cách chừng mực, ở góc đời sống người dân.
Những cư dân đầu tiên của thung lũng sông Quây Sơn
Người Tày là cư dân lâu đời nhất của vùng núi đông bắc Cao Bằng theo hiểu biết hiện nay. Họ định cư ở những thung lũng có nước, khai phá ruộng nà dọc sông suối, dựng nhà sàn ven chân núi, giữ rừng đầu nguồn. Thung lũng sông Quây Sơn, với nước quanh năm và đất bồi ven sông, là kiểu nơi lý tưởng cho lối sống ấy.
Người Nùng có mặt đông đảo ở vùng Cao Bằng, phần nhiều theo các đợt di cư từ vùng Quảng Tây sang trong khoảng vài thế kỷ gần đây, sống xen với người Tày, có khi lập bản riêng trên những vùng cao hơn. Hai cộng đồng gần nhau về ngôn ngữ, nếp nhà, lễ hội, và qua thời gian đã gắn bó bằng hôn nhân, chợ búa, làm ăn.
Dấu vết thời tiền sử ở vùng núi đá Cao Bằng đã được giới khảo cổ tìm thấy ở nhiều hang động trong tỉnh. Riêng với vùng Trùng Khánh, những phát hiện cụ thể nên tra trong các báo cáo khảo cổ chuyên ngành, không nên suy diễn từ các thông tin chung của cả tỉnh.
Châu Quảng Nguyên và vùng biên thời Lý – Trần
Thời Lý, vùng Cao Bằng thường được sử sách nhắc đến dưới tên châu Quảng Nguyên. Đây là vùng biên, nơi triều đình ở Thăng Long quản lý thông qua các thủ lĩnh địa phương, cho họ quyền tự quản khá rộng đổi lấy việc thần phục, nộp cống và giữ yên biên cõi.
Thế kỷ XI, vùng Quảng Nguyên gắn với tên tuổi Nùng Trí Cao, một thủ lĩnh người bản địa từng nhiều lần nổi dậy, có lúc xưng hiệu riêng, rồi được triều Lý chiêu dụ và phong chức. Câu chuyện của ông được nhiều nơi ở Cao Bằng ghi nhớ, có nơi lập đền thờ. Tuy vậy, việc gắn từng sự kiện trong đời ông với một địa điểm cụ thể ở vùng Trùng Khánh ngày nay cần dựa vào nghiên cứu chuyên sâu, không nên khẳng định theo lời truyền miệng.
Sang thời Trần, vùng biên Cao Bằng vẫn giữ vị trí phên dậu phía bắc. Sử chép nhiều về các cuộc kháng chiến lớn đi qua vùng Lạng Sơn, còn những thung lũng sâu ở đông bắc Cao Bằng ít được nhắc tên, cho thấy đời sống nơi đây chủ yếu vận hành theo nhịp của các bản và thủ lĩnh địa phương.
Một điều cần nhớ khi đọc sử giai đoạn này: ranh giới các châu, động thời Lý – Trần không được vẽ trên bản đồ như ngày nay mà được xác định theo bản làng, theo thủ lĩnh nào cai quản. Vì vậy mọi câu như "thời Lý, vùng Trùng Khánh thuộc châu nào" chỉ có thể trả lời ở mức đại thể.
Thời Lê – Mạc: Cao Bằng trong một thế kỷ biến động
Cuối thế kỷ XVI, sau khi mất Thăng Long, dòng họ Mạc rút lên Cao Bằng và duy trì chính quyền ở đây gần một thế kỷ, cho đến năm 1677. Trong khoảng thời gian ấy, Cao Bằng có vai trò chính trị lớn hơn hẳn các giai đoạn trước, nhiều công trình, thành luỹ được xây dựng ở vùng trung tâm tỉnh.
Với vùng đông bắc như Trùng Khánh, ảnh hưởng của thời Mạc chủ yếu là gián tiếp: thay đổi về thuế, lính, về quan hệ giữa các thổ ty với chính quyền trung tâm. Một số dòng họ trong vùng có gia phả nhắc đến giai đoạn này, nhưng chi tiết cần được đối chiếu cẩn thận vì gia phả thường được chép lại nhiều lần.
Sau khi nhà Lê trung hưng giành lại Cao Bằng, hệ thống thổ ty được củng cố. Các dòng họ thổ quan nắm quyền cai quản từng châu, từng vùng theo kiểu cha truyền con nối, chịu sự kiểm soát của triều đình qua các quan trấn thủ.
Thời Nguyễn: phủ Trùng Khánh và chế độ thổ ty
Dưới triều Nguyễn, đặc biệt sau những cải cách hành chính thời Minh Mạng, Cao Bằng được tổ chức thành tỉnh với các phủ, châu. Tên Trùng Khánh xuất hiện ở cấp phủ trong giai đoạn này theo các tài liệu địa chí. Triều đình cố gắng thay dần chế độ thổ ty bằng quan lại do triều đình bổ nhiệm, nhưng ở vùng núi xa, quyền lực của các dòng họ địa phương vẫn còn rất lớn.
Đời sống người dân lúc này gắn với ruộng nà, nương, rừng và các phiên chợ. Hàng hoá trao đổi trong vùng và với bên kia biên giới đi theo những con đường mòn qua đèo, qua lũng. Những con đường ấy về sau trở thành hướng tuyến cho đường ô tô, đường liên xã.
Cũng thời kỳ này, nhiều làng bản được tổ chức theo đơn vị tổng, xã của triều đình, với lý trưởng, chánh tổng đứng ra thu thuế, bắt phu. Tên các tổng ít khi còn được nhắc ngày nay, nhưng trong giấy tờ ruộng đất thời Nguyễn và đầu thời Pháp, tên tổng là chìa khoá để biết mảnh ruộng ấy nằm ở vùng nào.
Thời kỳ này để lại một số văn bản như địa bạ, sắc phong, văn tự mua bán ruộng, phần lớn viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Đây là nguồn quý nhưng nằm rải rác ở các gia đình, dòng họ, cần người đọc được chữ Hán – Nôm để khai thác.
Thời Pháp thuộc và những năm kháng chiến
Cuối thế kỷ XIX, người Pháp chiếm Cao Bằng và tổ chức vùng biên theo kiểu quân sự, với các đạo quan binh và hệ thống đồn binh. Vùng Trùng Khánh, sát biên giới, có các đồn bốt để kiểm soát đường đi lại và vùng biên. Bộ máy hành chính cấp châu vẫn dùng một phần người địa phương làm tri châu, chánh tổng.
Từ những năm 1940, Cao Bằng trở thành một trong những căn cứ của phong trào cách mạng. Người Tày, người Nùng ở nhiều vùng trong tỉnh tham gia các đoàn thể, nuôi giấu cán bộ, góp lương thực. Sau năm 1945 và trong kháng chiến chống Pháp, vùng đông bắc Cao Bằng là hậu phương của các chiến dịch lớn ở biên giới.
Những nhân vật, sự kiện cụ thể của địa phương giai đoạn này được ghi trong các sách lịch sử đảng bộ và lịch sử kháng chiến của tỉnh, huyện. Khi muốn dẫn tên người hay ngày tháng, bạn nên tra trực tiếp các sách ấy thay vì dựa vào thông tin truyền tay.
Từ 1954 đến nay: huyện vùng cao, vùng biên và những lần sắp xếp
Sau 1954, huyện Trùng Khánh bước vào giai đoạn xây dựng: hợp tác xã nông nghiệp, trường học, trạm xá, đường đất nối các xã. Đời sống vẫn khó khăn, phụ thuộc nhiều vào thời tiết và đất canh tác hẹp giữa núi đá.
Cuối những năm 1970 và trong thập niên 1980, vùng biên Cao Bằng trải qua một giai đoạn căng thẳng kéo dài; đời sống nhiều bản bị xáo trộn, việc đi lại, buôn bán qua biên giới bị gián đoạn. Từ đầu những năm 1990, quan hệ hai bên bình thường trở lại, chợ biên và cửa khẩu dần mở, buôn bán hàng nông sản, hàng tiêu dùng sôi động trở lại.
Những năm gần đây, vùng có thêm mấy mốc lớn: Công viên địa chất Non nước Cao Bằng, trong đó có thác Bản Giốc và động Ngườm Ngao, được UNESCO công nhận năm 2018; huyện Trà Lĩnh nhập vào Trùng Khánh đầu năm 2020; và từ ngày 1/7/2025, cấp huyện bị bỏ, vùng được tổ chức thành bảy xã thuộc tỉnh Cao Bằng.
Vì sao lịch sử Trùng Khánh ít được ghi chép
Người tìm hiểu lịch sử vùng này sớm nhận ra tư liệu ít hơn hẳn so với các huyện đồng bằng. Có mấy lý do. Thứ nhất, vùng ở xa kinh đô, sử triều đình chỉ chép khi có việc lớn như nổi dậy, chiến sự, cống nạp. Thứ hai, quyền cai quản lâu đời nằm trong tay các dòng họ thổ ty, nên văn bản hành chính, nếu có, thường lưu ở nhà riêng chứ không ở kho lưu trữ nhà nước.
Thứ ba, khí hậu ẩm, nhà cửa nhiều lần dời đổi, lại qua những giai đoạn binh lửa, khiến giấy tờ cũ dễ hư hỏng, thất lạc. Thứ tư, truyền thống ghi nhớ của người Tày, người Nùng phần lớn là truyền miệng, qua lời hát, lời kể, lời cúng của các bậc làm nghi lễ trong bản, chứ không phải văn bản viết.
Hệ quả là lịch sử vùng phải được ghép từ nhiều mảnh: một đoạn trong sử triều đình, một dòng trong địa chí, một tờ sắc phong còn giữ ở nhà một dòng họ, lời kể của người già. Người viết nên trình bày rõ mảnh nào là văn bản, mảnh nào là lời kể, và chấp nhận rằng có những khoảng trống chưa thể lấp.
Dòng thời gian tóm tắt
Các mốc dưới đây được chọn vì đã chắc chắn hoặc được nhiều tài liệu thống nhất; giai đoạn nào chỉ có thông tin chung thì ghi theo thế kỷ:
- Thời Lý (thế kỷ XI – XII): vùng Cao Bằng thuộc châu Quảng Nguyên, quản lý qua thủ lĩnh địa phương.
- Cuối thế kỷ XVI – 1677: nhà Mạc đóng ở Cao Bằng.
- Thời Nguyễn (thế kỷ XIX): Cao Bằng thành tỉnh; tên Trùng Khánh xuất hiện ở cấp phủ.
- Cuối thế kỷ XIX: Pháp chiếm Cao Bằng, tổ chức vùng biên theo kiểu quân sự.
- Sau 1945: huyện Trùng Khánh thuộc tỉnh Cao Bằng.
- 2018: Công viên địa chất Non nước Cao Bằng được UNESCO công nhận.
- Đầu năm 2020: huyện Trà Lĩnh nhập vào huyện Trùng Khánh.
- 1/7/2025: bỏ cấp huyện; vùng Trùng Khánh cũ thành bảy xã.
Ai cần mốc chính xác đến ngày tháng cho các giai đoạn trước thế kỷ XX nên tra sách địa chí Cao Bằng và các bộ sử thời Nguyễn như Đại Nam nhất thống chí, nơi có phần chép riêng về tỉnh Cao Bằng.
Câu hỏi thường gặp
Trùng Khánh có từ bao giờ?
Vùng đất có người ở từ rất lâu, chủ yếu là người Tày rồi thêm người Nùng. Tên Trùng Khánh xuất hiện trong hệ thống hành chính thời Nguyễn ở cấp phủ; huyện Trùng Khánh là đơn vị quen thuộc sau năm 1945, và từ 2025 tên này là tên một xã.
Nùng Trí Cao có liên quan đến Trùng Khánh không?
Nùng Trí Cao là thủ lĩnh vùng Quảng Nguyên thế kỷ XI, tức vùng Cao Bằng nói chung. Việc gắn từng sự kiện trong đời ông với một địa điểm cụ thể ở Trùng Khánh ngày nay cần dựa vào nghiên cứu chuyên sâu, không nên khẳng định theo lời kể.
Chế độ thổ ty là gì?
Đó là cách triều đình phong kiến quản lý vùng núi qua các dòng họ thủ lĩnh địa phương, cho họ cai quản theo kiểu cha truyền con nối, đổi lại phải thần phục, nộp thuế và giữ yên vùng biên. Triều Nguyễn từng tìm cách thay dần bằng quan lại bổ nhiệm.
Tìm tư liệu lịch sử Trùng Khánh ở đâu?
Có thể bắt đầu với sách địa chí và lịch sử địa phương của tỉnh Cao Bằng ở thư viện tỉnh, Đại Nam nhất thống chí phần Cao Bằng, các văn bản sắp xếp hành chính năm 2020 và 2025, rồi tới gia phả, sắc phong còn giữ ở các dòng họ.
Vì sao bài không viết chi tiết về chiến sự vùng biên?
Trang này là trang thông tin đời sống địa phương, nên giai đoạn căng thẳng vùng biên được nhắc ở góc ảnh hưởng tới đời sống người dân. Người cần tìm hiểu sâu nên đọc các công trình lịch sử chính thức và sách chuyên khảo.