TrungKhanh.comTrùng Khánh
Núi đá, sông suối và khí hậu

Núi đá vôi Trùng Khánh hình thành thế nào: đỉnh chóp, phễu karst và thung lũng kín

Núi đá vôi Trùng Khánh là kết quả của nước mưa hoà tan đá qua hàng triệu năm. Đỉnh chóp, phễu karst, lũng kín, vách đứng hình thành ra sao, ảnh hưởng gì tới đời sống.

Drone view looking straight down at clustered cone-shaped limestone peaks covered in shrubs, small round sinkholes with tiny fields at their bottoms, soft overcast light

Phần lớn cảnh quan vùng Trùng Khánh là địa hình karst: núi đá vôi hình chóp mọc dày như một rừng đỉnh, giữa các đỉnh là những phễu, những thung lũng kín đáy bằng, sông suối có đoạn chảy ngầm. Tất cả hình thành do nước mưa có tính axit nhẹ hoà tan đá vôi qua hàng triệu năm, khoét rộng các khe nứt rồi tạo thành hố, hang, lũng.

Hiểu được cơ chế này giúp đọc được cảnh quan: vì sao ruộng chỉ có ở đáy lũng, vì sao núi đá thiếu nước dù mưa nhiều, vì sao có hang động, hồ trên núi và thác đổ trên các bậc đá. Bài viết đi từ hoá học của đá vôi tới những dạng địa hình bạn sẽ gặp trên đường qua bảy xã.

Đá vôi là gì và vì sao nước có thể "ăn" được đá

Đá vôi là loại đá trầm tích, thành phần chủ yếu là canxi cacbonat. Phần lớn đá vôi hình thành từ trầm tích ở đáy biển cổ: vỏ, xương của sinh vật biển tích tụ qua thời gian rất dài, bị nén chặt thành đá. Về sau, các vận động của vỏ Trái Đất nâng những lớp đá ấy lên thành núi. Theo hồ sơ của Công viên địa chất Non nước Cao Bằng, đá ở vùng này ghi lại một lịch sử địa chất kéo dài hàng trăm triệu năm.

Nước mưa khi rơi qua không khí và thấm qua đất hấp thụ khí cacbonic, tạo thành một dung dịch axit cacbonic rất loãng. Axit này phản ứng với canxi cacbonat, biến nó thành canxi bicacbonat tan được trong nước. Mỗi trận mưa chỉ hoà tan một lượng đá rất nhỏ, nhưng tích luỹ qua hàng trăm nghìn, hàng triệu năm, quá trình ấy đủ để khoét rỗng cả một vùng núi.

Điểm quan trọng là đá vôi bị hoà tan mạnh nhất ở những chỗ nước tập trung: khe nứt, mặt lớp đá, chỗ giao nhau của các vết nứt. Vì thế địa hình karst không mòn đều như đồi đất, mà bị khoét không đều, tạo ra những hình dạng rất đặc trưng.

Rừng đỉnh chóp: vì sao núi Trùng Khánh có hình nón

Nhìn từ trên cao, vùng núi đá Trùng Khánh giống một biển đỉnh chóp mọc sát nhau, chân dính liền nhau, giữa các đỉnh là những hố lõm. Giới địa mạo gọi kiểu này là karst dạng cụm đỉnh. Đây là kiểu địa hình phổ biến ở vùng nhiệt đới ẩm có đá vôi dày, nơi lượng mưa lớn làm quá trình hoà tan diễn ra mạnh.

Mỗi đỉnh chóp là phần đá còn sót lại giữa những chỗ bị hoà tan nhiều. Nước mưa đọng ở các hố lõm, thấm xuống qua khe nứt, khoét hố ngày càng sâu và rộng; phần đá giữa các hố bị mài mòn chậm hơn nên nhô lên thành đỉnh. Qua thời gian rất dài, các hố mở rộng, nối vào nhau, đỉnh thưa ra.

Ở những nơi quá trình này đi xa hơn, các hố lõm hợp lại thành thung lũng lớn có đáy bằng, các đỉnh đứng tách rời nhau như những ngọn tháp. Trên đường qua vùng Trùng Khánh, bạn có thể thấy cả hai kiểu: cụm đỉnh dày đặc ở vùng núi cao, và những ngọn tháp đứng riêng giữa đồng ruộng ở các thung lũng rộng ven sông.

Các dạng địa hình karst hay gặp và cách nhận ra

Không cần là nhà địa chất, bạn vẫn nhận ra được các dạng chính khi đi đường:

Dạng địa hìnhCách nhận raÝ nghĩa với đời sống
Đỉnh chóp, cụm đỉnhNúi đá hình nón, sát nhau, sườn dốc, có cây bụi bámKhó canh tác, giữ rừng là chính
Phễu karstHố lõm tròn hoặc bầu dục giữa các đỉnh, đáy có thể có ruộng nhỏĐất màu tích ở đáy, nước thoát xuống lòng đất
Thung lũng kín (lũng)Vùng đất bằng bao quanh bởi núi đá, không có lối thoát nước lộ thiênNơi đặt bản, làm ruộng; có thể ngập khi mưa lớn
Vách đá dựng đứngMặt đá xám trơ, có vệt nước chảy, hốc nhỏNguy cơ đá lở, đá lăn mùa mưa
Hang động, cửa hangMiệng hang ở chân hoặc lưng chừng váchDấu vết của dòng nước ngầm xưa
Mó nước, mạch trồiNước chảy ra từ chân vách, thường quanh nămNguồn nước quý cho bản

Tên tiếng Tày của nhiều nơi phản ánh chính những dạng địa hình này: "lũng" cho thung lũng kín, "ngườm" cho hang, "bó" cho mạch nước. Người bản địa đã phân loại địa hình karst bằng ngôn ngữ của mình từ rất lâu trước khi có từ "karst".

Lũng: nơi đất và người tụ lại

Lũng là những thung lũng kín giữa núi đá, có khi chỉ rộng vài chục mét, có khi đủ cho cả một bản với nhiều thửa ruộng. Đất ở đáy lũng là phần đất màu bị rửa trôi từ sườn núi xuống, tích lại qua thời gian, nên thường tốt hơn hẳn đất trên sườn. Đó là lý do ruộng nước và nương ngô ở vùng núi đá tập trung ở đáy lũng.

Lũng cũng có nhược điểm. Không có dòng chảy lộ thiên để thoát nước, nước mưa trong lũng chủ yếu thoát xuống qua các khe nứt, hố sụt ở đáy. Khi mưa quá lớn hoặc các lối thoát bị bùn đất, rác lấp, nước không kịp rút và lũng có thể ngập cục bộ trong nhiều ngày. Người già trong bản thường biết rõ chỗ nào là "miệng" thoát nước của lũng và giữ cho nó thông.

Phần Trà Lĩnh cũ, nay là các xã Trà Lĩnh, Quang Hán, Quang Trung, có nhiều lũng hơn dải ven sông Quây Sơn. Bản làng ở đây thường nhỏ, nằm rải theo từng lũng, đường đi phải vượt qua những yên ngựa giữa các đỉnh để sang lũng bên cạnh.

Vì sao núi đá vôi thiếu đất và thiếu nước

Trên sườn núi đá vôi, lớp đất rất mỏng, nhiều chỗ chỉ còn đất kẹt trong các hốc đá. Nguyên nhân là đá vôi khi hoà tan để lại rất ít cặn không tan, nên quá trình tạo đất chậm. Thêm vào đó, mưa lớn rửa trôi phần đất ít ỏi ấy xuống các phễu, các lũng.

Nước mưa rơi xuống núi đá gần như không chảy tràn thành suối dài trên mặt, mà thấm nhanh xuống các khe nứt, đi vào hệ thống hang và mạch ngầm. Bề mặt vì thế khô nhanh sau mưa. Mùa khô, những nơi không có mó nước gần như không còn nước mặt, người dân phải trữ nước mưa hoặc lấy từ mạch ở xa.

Đây là một nghịch lý của vùng karst: lượng mưa cả năm không ít, nhưng nước "biến mất" vào lòng đất. Cây trên núi đá vì thế phải chịu hạn giỏi, rễ len sâu vào khe đá tìm ẩm, lá nhỏ và dày. Câu chuyện nước ngầm và mùa khô được nói kỹ hơn ở bài riêng trong mục này.

Đá lở và sụt đất: mặt khác của địa hình karst

Vách đá vôi dựng đứng có nhiều khe nứt. Nước mưa thấm vào khe, rễ cây len vào, nhiệt độ ngày đêm thay đổi làm đá giãn ra co lại; lâu dần những khối đá có thể tách ra và rơi xuống. Mùa mưa là lúc nguy cơ cao nhất, nhất là ở những taluy đường được xẻ vào núi đá.

Ở vùng karst còn có hiện tượng sụt đất: một khoảng đất phía trên hang ngầm hay khe nứt lớn bị sập xuống, tạo thành hố. Phần lớn hố sụt hình thành tự nhiên trong thời gian rất dài, nhưng có trường hợp xảy ra nhanh khi có mưa lớn hoặc khi mực nước ngầm thay đổi đột ngột.

Với người làm nhà, làm đường, điều đó có nghĩa là cần quan sát kỹ nền đất, hỏi người trong bản về những chỗ từng sụt, từng ngập. Với người đi đường, nên hạn chế dừng đỗ sát chân vách đá trong và ngay sau những trận mưa lớn.

Những dấu hiệu nên để ý gồm: đá vụn mới rơi trên mặt đường, vết nứt mới trên taluy, nước đục chảy ra từ chân vách sau mưa, tiếng lục cục trên sườn núi. Gặp những dấu hiệu ấy, tốt nhất là đi qua nhanh và không dừng lại.

Vì sao karst nhiệt đới khác karst vùng lạnh

Địa hình karst có ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng hình dạng rất khác nhau tuỳ khí hậu. Ở vùng ôn đới lạnh, karst thường là những cao nguyên đá có nhiều hố sụt, mặt đá nứt nẻ, ít có những ngọn núi hình chóp cao vút. Ở vùng nhiệt đới ẩm như miền Bắc Việt Nam và nam Trung Quốc, karst phát triển thành những rừng đỉnh chóp, tháp đá, thung lũng kín mà ta thấy ở Cao Bằng, Hà Giang, Ninh Bình hay Quảng Ninh.

Lý do chính là lượng nước và lượng khí cacbonic trong đất. Mưa nhiều cung cấp nước cho quá trình hoà tan; thảm thực vật nhiệt đới phân huỷ nhanh tạo nhiều khí cacbonic trong đất, làm nước thấm xuống có tính axit mạnh hơn. Nhiệt độ cao cũng làm các phản ứng sinh học trong đất diễn ra mạnh. Kết quả là đá vôi ở vùng nhiệt đới bị khoét nhanh hơn và không đều hơn.

Vì thế khi nhìn núi đá Trùng Khánh, bạn đang thấy một kiểu cảnh quan đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa có đá vôi dày. Đây cũng là một trong những lý do vùng này được đưa vào Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng.

Đọc cảnh quan khi đi qua bảy xã

Đi từ khu trung tâm xã Trùng Khánh về phía thác Bản Giốc, bạn đi dọc những thung lũng mở rộng có ruộng lúa và núi tháp đứng riêng lẻ; cảnh ở đây là karst đã bị bào mòn khá lâu, đáy lũng rộng, sông chảy lộ thiên. Ngược lên vùng thượng nguồn sông Quây Sơn, thung lũng hẹp lại, vách đá cao và sát hơn.

Sang phía Trà Lĩnh cũ, địa hình cao hơn, cụm đỉnh dày hơn, lũng nhỏ và kín, nước mặt hiếm. Những vạt ngô xanh trên nền đá xám, những bức tường đá xếp quanh ruộng nhỏ là dấu hiệu của một vùng mà đất và nước đều quý.

Mỗi cảnh ấy là một trang trong cùng một câu chuyện địa chất: đá vôi biển cổ được nâng lên, rồi nước mưa kiên nhẫn khắc vào đó suốt hàng triệu năm. Người Tày, người Nùng đến sau, học cách sống trong những khoảng trống mà nước đã khoét ra.

Một gợi ý cho người thích quan sát: dừng ở một điểm cao an toàn, nhìn xuống một lũng, rồi thử nhận ra đâu là đỉnh chóp, đâu là phễu, đâu là miệng thoát nước, đâu là mó nước nơi bản lấy nước. Sau vài lần như vậy, cảnh núi đá sẽ không còn là một khối xám giống nhau mà thành một bức tranh có trật tự.

Câu hỏi thường gặp

Núi đá vôi ở Trùng Khánh bao nhiêu tuổi?

Đá vôi ở vùng này hình thành từ trầm tích biển cổ, theo hồ sơ Công viên địa chất Non nước Cao Bằng là cách nay hàng trăm triệu năm. Còn hình dạng núi đá như ngày nay là kết quả của quá trình hoà tan kéo dài hàng triệu năm sau khi đá được nâng lên.

Karst là gì?

Karst là tên gọi chung cho kiểu địa hình hình thành khi nước hoà tan các loại đá dễ tan như đá vôi. Đặc trưng của karst là núi đá có hình dạng lạ, nhiều hang động, phễu, thung lũng kín, sông suối chảy ngầm và bề mặt thiếu nước.

Vì sao ruộng ở vùng núi đá chỉ có ở đáy thung lũng?

Vì đất trên sườn núi đá rất mỏng, bị mưa rửa trôi xuống đáy các phễu và lũng. Đáy lũng tích được đất màu và ẩm hơn, nên người dân làm ruộng, trồng ngô ở đó, còn sườn núi chủ yếu để rừng và cây bụi.

Ở vùng núi đá có nguy cơ sụt đất không?

Có nguy cơ, vì dưới mặt đất có thể có hang ngầm và khe nứt lớn. Phần lớn hố sụt hình thành chậm, nhưng mưa lớn hoặc nước ngầm thay đổi đột ngột có thể làm sụt nhanh. Khi làm nhà nên hỏi người trong bản và cơ quan chuyên môn về nền đất.

Có nên leo núi đá vôi ở Trùng Khánh không?

Sườn núi đá vôi rất dốc, đá sắc, nhiều chỗ đá lỏng dễ rơi, không có lối mòn rõ ràng. Không nên tự leo khi không có người địa phương dẫn và trang bị phù hợp, nhất là trong mùa mưa. Một số khu vực gần biên giới còn có quy định riêng về đi lại.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.